+ Trường hợp túi ni lông được nhập cảng theo loại hình nhập kinh doanh: người nhập khẩu thực hiện kê khai, nộp thuế BVMT đối với số lượng túi ni lông nhập cảng không được dùng hoặc sử dụng không hết nêu trên tại cơ quan thuế nơi người du nhập có hội sở chính
- Tại điểm 1. Vận hạn nộp thuế bảo vệ môi trường trong trường hợp này là kì hạn nộp thuế du nhập theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản chỉ dẫn thi hành". Trường hợp trong tháng không nảy sinh thuế bảo vệ môi trường phải nộp thì người nộp thuế vẫn kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để theo dõi. Nguồn: internet Về vấn đề này, Bộ Tài chính chỉ dẫn như sau: - Tại Khoản 1 Điều 2 Luật thuế BVMT quy định: "1.
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường". - Tại Điều 1 Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 quy định sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định về đối tượng chịu thuế như sau: "3.
Cơ quan thương chính có nghĩa vụ thông tin bằng văn bản song song gửi kèm bản chụp hồ sơ du nhập tới cơ thuế quan nơi người nhập cảng có trụ sở chính để xử lý theo quy định. Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Người nhập khẩu tự khai báo, tự chịu trách nhiệm theo quy định của luật pháp về nội dung khai báo du nhập bao bì để đóng gói sản phẩm hoặc để bán trực tiếp cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm…". Cứ các quy định nêu trên thì: - Trường hợp túi ni lông mà người nhập khẩu đã có khai báo về việc nhập khẩu để đóng gói sản phẩm nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hết để đóng gói sản phẩm mà đã dùng để bàn bạc, tiêu dùng nội bộ, tặng cho (riêng túi ni lông nằm trong tỉ lệ hao đã đăng ký hoặc không đăng ký định mức với cơ quan hải quan như bị rách, thủng, nhàu nát… trong quá trình sinh sản - không phân biệt là sau đó số lượng túi ni lông này được bán, đàm đạo, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, tiêu hủy thì được xác định là số lượng túi ni lông không được dùng hoặc sử dụng không hết) thì người nhập khẩu phải kê khai, nộp thuế BVMT đối với túi ni lông không được dùng hoặc sử dụng không hết đó và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa du nhập được thực hiện cùng thời khắc với việc khai thuế và nộp thuế nhập cảng, trừ mặt hàng xăng dầu nhập cảng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư này.
Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa quy định tại Khoản này (kể cả có hình dạng túi và không có hình trạng túi), bao gồm: a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa du nhập; b) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc du nhập để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sinh sản, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói; c) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người sinh sản hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ nghĩa đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói".
Người nhập khẩu thực hành kê khai, nộp thuế theo tháng theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản chỉ dẫn thi hành.
Ảnh minh họa. B2) Đối với bao bì nhập cảng thì người nhập khẩu bao bì phải cung cấp cho cơ quan thương chính khi du nhập: Hồ sơ thương chính bao bì du nhập theo quy định. B) Đối với hàng hóa du nhập, hàng hóa du nhập ủy thác thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường thì người nộp thuế thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo từng lần nảy sinh (trừ trường hợp xăng dầu du nhập để bán).
- Tại điểm a2 điểm b2 Điều 1 Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 29/8/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính quy định sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 1 như sau: Bao bì mà người sản xuất hoặc người du nhập đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu du nhập để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không dùng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để thảo luận, tiêu dùng nội bộ, tặng cho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Thời điểm kê khai, nộp thuế thực hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 117/2011/TT-BTC ngày 15/8/2011 và Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính. 3 Điều 7 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính quy định về khai thuế BVMT như sau: "a) Đối với hàng hóa sinh sản bán ra, luận bàn, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo tháng theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản chỉ dẫn thi hành.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét