Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Ngân hàng thương mại Việt Nam và câu chuyện mở mang đầu tư ra nước ngoài.

Hoạt động ngân hàng ở nước ngoài, đặc biệt là ở những thị trường khó tính khó nết ở các nước phát triển như Mỹ, châu Âu đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng Việt Nam phải đặc biệt chú trọng trình độ của các nhà quản lý và đội ngũ nhân viên của chi nhánh nước ngoài, chú trọng đào tạo cả về trình độ chuyên môn, đạo đức và đặc biệt là khả năng thông suốt địa phương (hàng ngũ viên chức của chi nhánh luôn nhân ái công tại địa phương đặt chi nhánh vì khả năng thông tâm lý, lối sống, sở thích của dân địa phương; có kinh nghiệm hoạt động nhà băng thì càng tốt, đặc biệt nếu hoài hợp lý có thể thuê nhiều viên chức thuộc dạng này).

687 8,8 2 Lào (1 CN), Campuchia (1 CN)  (Nguồn: Tổng hợp từ thưa thường niên năm 2012 của các nhà băng Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Sacombank, SHB, MB)   (*) NPL (%) = Nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5)/Tổng dư nợ tín dụng   ích và thách thức khi NHTM    Việt Nam    đầ   u t   ư    ra nước ngoài     Những Lợi ích     Thứ nhất  , đây là dấu hiệu cho thấy sức cạnh tranh của các NHTM Việt Nam đang từng bước được nâng cao.

Mặt khác, nếu ngân hàng không chuẩn bị tốt phương án về vốn thì lượng vốn dành cho doanh nghiệp trong nước cũng sẽ bị thu hẹp, không đáp ứng đủ nhu cầu, ảnh hưởng đến hoạt động của nhà băng. 864 175. 785 2. Trong ngày mai, Trung tâm thông báo này nên tăng cường thêm những thông báo về FDI ra nuớc ngoài cùa các doanh nghiệp Việt Nam, bằng cách tăng cường giám sát.

740 13. Hai là  , bên cạnh đó, lĩnh vực cho vay nước ngoài chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với cho vay trong nước vị nguồn thông báo ở nước ngoài thường kém tin tức hơn so với cho vay trong nước, việc kiểm soát các khoản tín dụng ở gần dễ hơn và hiện vẫn chưa có hệ thống tòa án quốc tế chính thức để bảo đảm tính hiệu lực cho các hiệp đồng cũng như để giải quyết tranh chấp khi xảy ra vỡ nợ.

Trước mắt, các NHTM nên tụ họp vào việc nâng cao năng lực tài chính và chất lượng phục vụ để vỡ hoang tối đa thị phần trong nước, nơi NHTM Việt Nam có lợi thế sân nhà.

414 151. 572 2,9 4 VPĐD (Lào, Campuchia, Myanmar, CH Séc)  4  Sacombank 10. Và nhữ       n       g thách thức     Một là  , điều đáng lo ngại đối với các ngân hàng khi mở mang đầu tư ra nước ngoài là sự cạnh tranh trong môi trường quốc tế rất cao, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải chuẩn bị tốt các phương án cho hoạt động của mình, đảm bảo hoạt động ổn định, lành mạnh và có hiệu quả.

506 116. Vày, các ngân hàng cần biết rằng khi ra thị trường quốc tế thì bản thân các nhà băng mang thương hiệu Việt Nam sẽ đại diện cho hình ảnh Việt Nam trên toàn thế giới nói chung và trong lĩnh vực tài chính thế giới nói riêng.

553 414. Thị trường Lào và Campuchia được các ngân hàng đánh giá là dễ triển khai dịch vụ và dễ chiếm lĩnh thị trường. Các NHTM Việt Nam đầu tư ra nước ngoài nếu cốt tử tụ họp phục vụ cho người Việt ở nước ngoài thì nên chọn các khu vực có đông kiều bào sinh sống, địa điểm hợp lý nhất là tại các khu vực với những hộ gia đình và cá nhân chủ nghĩa có thu nhập làng nhàng, nơi các cửa hàng bán lẻ và các cửa hàng bách hóa, các chợ có mật độ tụ họp cao.

Bên cạnh thị trường khu vực Đông Dương, nhiều NHTM còn cỡ địa bàn hoạt động ở những nước hợp với tiêu chuẩn và nguồn lực của mình. 494 484. 530 6. Vì vậy, các ngân hàng có hoạt động tín dụng quốc tế phải có những phương thức gian rủi ro, phải phân tách kỹ cá nhân người vay, giang sơn và chính phủ nơi người vay định cư (Rose, 1998).

Đây là nơi mà chỉ nhánh nhà băng có khả năng huy động được tiền gửi và cung cấp những khoản tín dụng. Tuy nhiên, với dân số khiêm tốn hơn so với Việt Nam, việc mở mang đầu tư sang thị trường hai nước này cần phải được các ngân hàng Việt Nam coi xét, phân tích kỹ nhất là về dân số, tỷ lệ dân thành thị.

174 41. 610 2. 282 987 1,97 8 Lào (1 CN, 1 PGD), Campuchia (1 SGD, 5 CH)(số liệu tính đến 31/3/2013)  5  MB 10.

Tại các chi nhánh ở Lào và Campuchia, đối tượng khách hàng mà nhà băng Việt Nam hướng tới là các doanh nghiệp Việt kiều, viên chức Việt Nam đang làm việc tại các tổ chức, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các xã hội dân cư của hai nước.

Đặc biệt về quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của NHTM Việt Nam ở nước ngoài, đầu tiên, cần tuân theo luật pháp trong nước và quốc tế sao cho vừa quản lý chém các tổ chức này theo đề nghị hoạt động của Việt Nam, vừa theo đề nghị hoạt động của nước sở tại.

Thứ hai  , việc mở mang đầu tư của các tổ chức tín dụng ra nước ngoài cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài có thêm nhịp hợp tác, hỗ trợ về mặt tín dụng, tài chính ăn nhập, giúp doanh nghiệp tiện lợi hơn trong giao dịch và thanh toán quốc tế. Các NHTM Việt Nam mở mang đầu tư ra nước ngoài cũng rất kỳ vọng tỷ lệ vốn vay của doanh nghiệp FDI tại nhà băng sẽ tăng lên.

320 1,84 2 Lào (1 CN), Campuchia (1 CN)  6  SHB 8.

000 12. 866 9. Việc này đòi hỏi ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là cơ quan cấp phép hoạt động đầu tư ra nước ngoài cho các ngân hàng, phải đặc biệt quan tâm, nhằm bảo vệ hình ảnh Việt Nam trên toàn thế giới và tránh rủi ro cho hoạt động của hệ thống nhà băng trong nước.

Do vậy, trước mắt, các NHTM Việt Nam chỉ nên mở rộng đầu tư sang các nước mà Chính phủ sở tại có nhiều ưu đãi, dân số và tỷ tệ dân thành thị ở mức tương đối, có đông người Việt sinh sống, dịch vụ tài chính và ngân hàng phát triển ở mức vừa phải như thị trường Đông Dương, Trung Quốc, ASEAN. 427 2,40 1 VPĐD tại Singapore  2  Vietinbank 26.

Xây dựng Trung tâm thông báo đồng bộ, hợp nhất, nối mạng với các Sở Kế hoạch và Đầu tư, các ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, doanh nghiệp FDI, thương chính, cơ thuế quan, nhà băng để khắc phục nhược điểm thiếu thông báo, không cập nhật, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp xử lý kịp thời đối với hoạt động FDI trong cả nước.

Hoạt động tham dự này của các cơ quan đại diện Chính phủ Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam không phải tự bơi, và không cảm thấy lạc lõng trong môi trường quốc tế, song song cũng sẽ tác động tâm lý tốt đến các doanh nghiệp trong nước đang có ý định đầu tư ra nước ngoài, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tín hơn khi dự và hoạt động trong môi trường quốc tế (FIA, 2013).

Thường ngày, cổ đông chiến lược sẽ là những tập đoàn tài chính, nhà băng có nguồn vốn lớn, có kinh 1 nghiệm hoạt động lâu năm, có trình độ chuyên môn, công nghệ tiên tiến, và sẽ tương trợ nhà băng nước sở tại bằng những lợi thế nêu trên.

012 26. Về lâu dài, sẽ tính đến việc mở rộng thị trường sang các nước phát triển như Mỹ, châu Âu. Bên cạnh đó, góp phần thúc đẩy thanh toán cho các giao dịch ngoại thương giữa các nước sở tại nơi nhà băng mở mang màng lưới với Việt Nam, đây cũng là động lực giúp phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam theo mô hình tập đoàn đương đại, hoạt động xuyên nhà nước.

Sự kiện nhà băng TMCP công thương nghiệp Việt Nam (Vietinbank) mở văn phòng đại diện (năm 2010) và thành lập chi nhánh tại Đức (năm 2011) đã đánh dấu bước phát triển mới của ngành nhà băng nói riêng và nền tài chính Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế. Hơn nữa, tổn phí hoạt động tại nước ngoài sẽ rất tốn kém. Rủi ro gia tăng đối với những khoản cho vay quốc tế thường gọi là rủi ro quốc gia, nó xảy ra khi chính phủ nước ngoài can thiệp vào việc hoàn trả khoản vay quốc tế, chẳng hạn thác thảy bổn phận trả nợ nước ngoài, tịch thu tài sản cá nhân chủ nghĩa hay trì hoãn thanh toán nợ trong một thời kì dài để duy trì dự trữ ngoại hối.

Quốc gia cũng cần có chính sách vừa ủng hộ, vừa thắt chặt trong việc mở mang đầu tư ra nước ngoài đối với các ngân hàng do quốc gia nắm cổ phần chi phối, tránh trường hợp trong nước còn thiếu vốn cơ mà đầu tư lớn ra nước ngoài.

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (FIA), tính đến tháng 04/2012, tổng số dự án đăng ký đầu tư ra nước ngoài của ngành tài chính, nhà băng và bảo hiểm Việt Nam là 31 dự án với tổng nguồn vốn đầu tư là 467,8 triệu USD (FIA, 2013) (Bảng 1)  BẢNG 1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM CÓ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI ( TÍNH ĐẾN 31/12/2012)   (Đơn vị tính: tỷ đồng)   TT   nhà băng   Vốn điểu lệ   Vốn chủ sở hữu   Tổng tài sản   Lợi nhuận sau thuế   NPL  (%)*  Số lượng VPĐD/ chỉ nhánh tại nước ngoài   Ghi chú   1  Vietcombank 23.

Nhà nước cần đứng đằng sau các NHTM để tương trợ, bảo trợ về pháp lý với tư cách là thương hiệu nhà nước để đảm bảo các tổ chức này được an toàn, thuận lợi trong nhũng tranh chấp quốc tế cũng như khai thông môi trường pháp lý cho hoạt động của các tổ chức này ở nước ngoài.

Ngoài ra, Vietcombank, ACB, BIDV cũng đã được nhà băng Nhà nước Việt Nam cho phép mở văn phòng đại diện tại Mỹ, tuy nhiên, Cục Dự trữ liên bang Mỹ chưa bằng lòng.

Một số đề xuất khi thực hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài  Chính phủ nên sớm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tổng thể về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam để có những biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực cho sự phát triển của hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Việc này sẽ vừa tạo tiếng vang, hình ảnh tốt cho nhà băng nói riêng và Việt Nam nói chung trong mắt bạn bè quốc tế, vừa nhận được cảm tình của các nhà quản lý sở tại, vừa có lợi về thuế (đặc biệt là các chương trình từ thiện, chương trình cho thiếu nhi, phụ nữ, chương trình coi ngó sức khỏe).

Chỉ những ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, khả năng quản trị điều hành và quản trị rủi ro tốt, đồng thời có khả năng ứng phó với các tình huống pháp lý, tài chính và ngân hàng quốc tế tốt mới nên nghĩ đến việc mở mang đầu tư ra nước ngoài, tránh tình trạng đầu tư theo trào lưu, theo xu hướng.

Không những thế, với thâm niên hoạt động của mình, các ngân hàng nội địa rất thông thạo tập quán, phong tục, tâm lý khách hàng Việt Nam. 170 1,48 3 Đức (2 CN), Lào (1 CN)  3  BIDV 23.

Ngân hàng phải đặt uy tín lên hàng đầu, đồng thời phải để ý quan hoài đến phát triển cộng đồng tại địa phương đặt chi nhánh. 475 4.

000 lao động xuất khẩu đang sinh sống ở 101 nhà nước và vùng cương vực. Cơ quan chuyên trách của Chính phủ Việt Nam nên tăng cường công tác cung cấp thông tin về thời cơ đầu tư ở các nước, thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài như một số quốc gia phát triển đã làm, tăng cường hơn nữa hoạt động xúc tiến đầu tư ra nước ngoài, giới thiệu và cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp về chính sách đầu tư của các thị trường tiềm năng (FIA, 2013).

217 33. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nhà băng thương nghiệp Việt Nam  Nhiều NHTM đã mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở nước ngoài, đó là nhà băng thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có văn phòng đại diện tại Singapore; nhà băng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mở văn phòng đại diện tại Campuchia; nhà băng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) mở chi nhánh ở Lào, Campuchia, Sacombank còn thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Campuchia (10/2011); ngân hàng Quân đội (MB), ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) cũng đã khai trương chi nhánh tại Campuchia.

Các NHTM Việt Nam cần xây dựng lịch trình phát triển cụ thể, nên xem việc đầu tư ra nước ngoài là hoạt động đầu tư ban đầu để có lộ trình phát triển cụ thể, dần dần từng bước một, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không nên dồn quá nhiều nguồn lực. Phối hợp với các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài và báo cáo của chính các doanh nghiệp cỏ đầu tư ra nước ngoài, song song cùng là Trung tâm tiếp thu những phản ảnh, quan điểm, hoài vọng của các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài dể kịp thời quản lý, hỗ trợ pháp lý và cập nhật thông báo về nguồn vốn FDI của Việt Nam ra nước ngoài.

Đồng thời, lượng kiều hối sẽ tăng cao, với màng lưới rộng khắp trên toàn quốc, lệnh chuyển tiền về nước sẽ được thực hiện mau chóng với mức chi phí cạnh tranh. Các cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam ở nước ngoài như Đại sứ quán, Lãnh sự quán, tham tán thương mại và đầu tư nên dự hiệu quả hơn nữa trong việc hỗ trợ thúc đẩy các dự án đầu tư ra nước ngoài, tham gia vào việc giám sát các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, tránh tình trạng không nắm rõ được số lượng các dự án, các khó khăn tiện lợi của nhà đầu tư, trong khi đó, các nhà đầu tư cũng không chủ động gặp gỡ, thưa tình hình hoạt động của dự án.

625 503. 538 1. Lượng kiều hối năm 2012 đạt 10 tỷ USD (SBV, 2013), tăng khoảng 20% so với năm 2011, cao hơn mức tăng làng nhàng 10 - 15% của những năm gần đây.

Các NHTM Việt Nam đã và đang hoặc có ý định đầu tư ra nước ngoài trước hết nên dò la, từng bước tiếp cận thị trường nước ngoài bằng cách mở văn phòng đại diện, góp vốn liên doanh; cũng có thể học tập theo cách mà các ngân hàng nước ngoài, tập đoàn tài chính quốc tế đã và đang làm tại thị trường Việt Nam là góp vốn mua cổ phần, trở nên cổ đông chiến lược của các NHTM Việt Nam, từng bước sở hữu vốn cổ phần của các NHTM nước sở tại, cộng tác với các đối tác nước ngoài với lợi thế của ngân hàng liên doanh, để có thể tận dụng màng lưới, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực và số lượng khách hàng đông đảo của các NHTM nước sở tại, dần từng bước thông thuộc thị trường thi tại nội địa, sau đó mới tính đến việc thành lập nhà băng 100% vốn nước ngoài.

Bài đăng trên tùng san nhà băng số 16 (tháng 8/201. Việc mở mang đầu tư ra nước ngoài cho thấy các nhà băng không chỉ phát triển mạnh mẽ trong nước, mà còn từng bước khẳng định thương hiệu tại thị trường quốc tế. Đây là điều đáng mừng đối với việc quản lý hiệu quả nguồn vốn FDI tại Vỉệt Nam.

Điều này làm cho các nhà đầu tư Việt Nam rơi vào cảnh ngộ lạc điệu, đơn lẻ hoặc xung đột với nhau khi giải quyết những khó khăn trong việc khai triển dự án tại nước sở tại. Đặc biệt các thị trường Đông Á, Đông Nam Á, Tây Âu, Đông Âu, Trung Đông có lực lượng xuất khẩu lao động rất lớn. Đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà băng trong nước thực hành cam kết với các nhà đầu tư và khách hàng trong việc đa dạng hóa hoạt động, phân tán rủi ro và tăng thu phí dịch vụ, làm tăng hiệu quả hoạt động và góp phần nâng cao kinh nghiệm, hình ảnh, vị thế của NHTM Việt Nam trên thị trường quốc tế, vươn lên trở nên tập đoàn tài chính nhà băng đương đại, hiệu quả và chủ lực của nền kinh tế, đặc biệt là các NHTM lớn của quốc gia.

Vị, hầu hết các NHTM trong nước đều đã có một màng lưới rộng khắp phê chuẩn các chi nhánh và sở giao thiệp với một hệ thống các khách hàng truyền thống từ nhiều năm, đặc biệt là khối các NHTM Nhà nước.

Lượng tiền chuyển về từ lực lượng này đã góp phần đáng kể trong tổng lượng kiều hối chuyển về Việt Nam những năm gần đây. Hơn nữa, chi nhánh cũng giúp tạo công ăn việc làm ở nước sở tại (đây cũng có thể là một trong những quy định khuyến khích mà các cơ quan quản lý nước sở tại đưa ra khi cuộn vốn FDI). Các NHTM Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cần chú trọng vào tính hiệu quả; đó chính là việc tập trung vào khách hàng, đặc biệt là thu hút khách hàng mới và tạo hình ảnh cho chi nhánh mới, khách hàng cần dược hướng dẫn rõ ràng về những dịch vụ nào được cung cấp tại chi nhánh.

Nên có những sản phẩm đặc thù cho địa phương, vày trong một hệ thống các NHTM với những sản phẩm rưa rứa nhau thì ngân hàng nào với sản phẩm đặc biệt sẽ gây chú ý hơn và khả năng thành công vì thế sẽ cao hơn.

Các NHTM Việt Nam cũng cần để ý là chỉ nên mua cổ phần của các nhà băng nước sở tại có uy tín, có hệ thống quản trị rủi ro tốt.

Theo thống kê, bây chừ, có trên 4 triệu người Việt Nam ở hải ngoại, trong đó có khoảng 500. Hiện thời, FIA đang xây dựng trọng tâm thông báo này với dữ liệu ban sơ là nguồn vốn FDI vào Việt Nam.

Các NHTM Việt Nam đầu tư ra nước ngoài nên tăng cường kết liên với nhau trong việc chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau để cùng hoạt động, đặc biệt là nên tham dự vào Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, tránh tình trạng hoạt động mang tính riêng lẻ, chẳng những không liên kết, hỗ trợ nhau mà còn cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho nước sở tại ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trong giới kinh doanh quốc tế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét