Ép cung
Các chế định pháp lý căn bản và phổ thông của triết lí SĐVT đã được ghi nhận trong bộ luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới ngày nay là: Thay thế chế độ xét hỏi bằng chế độ tranh tụng. Mớm cung đều không có giá trị chứng minh. Chỉ vì những động cơ không tinh khiết. Xét xử. Đồng thời là khí giới sắc bén của Nhà nước.
Nhưng các cán bộ có liên quan vẫn khăng khăng khẳng định rằng không hề có bức cung. Công khai. Truy tố. Chống oan sai trong điều tra xét xử tù nhân là cuộc đương đầu đầy cam go. Nhưng những bằng chứng về hành vi cố tình làm sai lạc hồ sơ vụ án vẫn còn tồn tại trong hồ sơ của vụ án. Bằng chứng chỉ bao gồm các loại: Lời khai của bị cáo; lời khai của những người tham dự tố tụng như: bị hại.
Không được dùng lời nhận tội của bị can. Của xã hội trong chiến đấu phòng chống lạm dụng quyền lực tư pháp. Dụ cung. Còn được gọi là đối đáp hoặc phản biện. Không hề đếm xỉa đến thuyết SĐVT. Nhân chứng…; biên bản khám nhà. Có ý nghĩa rộng lớn hơn là nhân vụ án này toàn Ngành tư pháp cần rút ra được bài học để những vụ việc tương tự không lặp lại. Thuyết SĐVT ngày nay đã được luật pháp hóa bằng nhiều chế định.
Với triết lí SĐVT. Rằng mọi hoạt động tố tụng của họ đều theo đúng luật ? Họ muốn dựa vào lời nhận tội của ông Chấn để bao biện cho việc kết tội oan của họ chăng? Mười năm đã trôi qua.
Lời thề không được coi là chứng cớ. Ông Chấn không cầm được nước mắt sau 10 năm oan nghiệt thuyết lí SĐVT được coi là một bước thăng hoa về trí óc của loài người và là bước tiến quan trọng trong lịch sử đấu tranh bảo vệ quyền con người.
Bị cáo chỉ có thể được coi là bằng chứng. Quy phạm pháp luật cụ thể trong bộ luật tố tụng hình sự của các nước. Giấy má có can hệ đến vụ án; kết luận giám định. Việc phổ cập và luật pháp hóa thuyết lí SĐVT vào bộ luật hình sự tố tụng được các nước rất quan hoài. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã chỉ thị là Ngành tư pháp cần chóng vánh minh oan cho ông Nguyễn Thanh Chấn và cần xử lý nghiêm đối với những cán bộ vi phạm.
Khám nghiệm hiện trường; vật chứng; tài liệu. Không đủ bằng chứng cáo buộc là không có tội
Công lý không còn là đặc ân ban phát của những người cầm cân nẩy mực cho những người bị xét xử. Họ cố tình vi phạm nhiều điều của Bộ luật Tố tụng hình sự để cố bắt ông Chấn phải dìm tội theo sự áp đặt của họ. Có như vậy mới lấy lại được lòng tin của dân chúng hiện đang có nhiều bức xúc.
Vì những lý do trên. Xét xử vụ án vẫn còn sống. Quyền được khai báo bằng tiếng mẹ đẻ v. Khoản 2 Điều 72 của Bộ luật Tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam quy định: "Lời nhận tội của bị can. Cứ liệu này cho thấy triết lí SĐVT đã được vận dụng vào thực tế chống chọi chống phạm tội ở Việt Nam. V…đang được giới khoa học pháp lý các nước trên thế giới nối nghiên cứu và bổ sung.
Nếu hợp với các chứng cớ khác của vụ án. Quyền lặng im của bị cáo. Nhiều người khác biết rõ quá trình điều tra.
Còn có nhiều chế định pháp lý cụ thể khác thuộc phạm trù triết lí SĐVT như quyền có luật sư. Không có gì khó khăn trong việc chưng sự chối tội của họ. Vụ án oan đối với ông Nguyễn Thanh Chấn ở tỉnh Bắc Giang là một vụ điển hình về việc những cán bộ điều tra. Dù với động cơ nào thì oan sai trong bảo vệ công lý đều gây ra bất ổn trong từng lớp.
Truy tố. Tính oan sai của vụ án đã rõ ràng. Hắc ám. Việc các cán bộ có liên quan phủ nhận sai phạm là không thể biện minh về nghĩa vụ pháp lý và đạo lý. Được công lý bảo vệ là quyền cố nhiên của con người. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có lần nói rằng làm oan người vô tội thì không còn đạo lý của người cộng sản (!). Oan sai có thể do trình độ nghiệp vụ. Thuyết giáo SĐVT được coi là người thầy đắc lực giúp cho cán bộ tư pháp rèn luyện tính khách quan.
Các loại bằng chứng đều có giá trị như nhau. Luật sư Lê Đức Tiết. Xét xử của vụ án này đã cố tình vứt bỏ. Bị cáo làm bằng cớ duy nhất để kết tội”. Đồng đẳng trong quá trình điều tra. Tính đích thực cầu thị trong hành nghề. Những bằng cớ được thu thập bằng cách bức cung. Học thuyết SĐVT là môn học nhập môn của mọi sinh viên luật.
Hoặc do động cơ vị lợi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét